 |
 |
 |
 |
Diện tích: 1.519,9 km2. Dân số (2004): 1.814.712 người.
Tỉnh lỵ: Thị xã Thái Bình.
Các huyện: Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Đông Hưng, Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải.
Dân tộc: Chủ yếu là dân tộc Việt (Kinh).
|
 |
Ba con sông lớn
nhất chảy qua tỉnh là sông Hồng Hà, sông Luộc và sông
Trà Lý. Sông Hồng Hà dùng làm ranh giới giữa tỉnh này
với các tỉnh Hà Nam và Nam Định; lòng sông rộng từ
500 đến 1.000 m (3000 ft) và chảy ra cửa Ba Lạt. Dòng
sông chảy rất mạnh từ sông Luộc đến sông
Trà Lý. Từ ngã ba sông Trà Lý trở xuống cho đến
sông Liêm Giang, dòng sông đã bớt mạnh vì
nước đã được chia bớt cho hai sông Luộc và
Nam Định. Phía tả ngạn sông Hồng Hà có ba chi lưu:
Sông Bồng Khê, La Khê và sông Lạc Đạo ăn với sông Trà
Lý. Từ sông Liêm Giang ra biển, sông Hồng Hà không còn đ ê,
đập giữ nước và có rất nhiều con rạch ăn
thông với sông. Ở quãng này, sông Hồng Hà có bốn
chi lưu: Liêm Giang, Lộc Giang, sông Lan và sông Đông Giang.
|
 |
Sông
Luộc là ranh giới giữa tỉnh Thái Bình với các tỉnh
Hưng Yên và Hải Dương, chảy ven tỉnh trên một đoạn đường
dài 50 km (31.3 miles); và có các sông nhánh: sông Tiền Hưng (có
vài sông nhánh nhỏ là Trinh Xuyên, Cổ Quan, Văn Giáng, Nguyên
Xá, Do Kỵ, Cổ Khúc và lạch Bình Cách), sông Đan Hội,
sông Quỳnh Côi, sông Diêm Hộ, sông Hóa (có một sông nhánh
phía hữu ngạn là sông Ninh Cù).
|
 |
Sông Trà Lý dài 63 km (39.4 miles), lòng sông rộng từ 100 đến 200 m (600 ft), có các sông nhánh là Bồng Khê, La Khê, Lạc Đạo, Liêm Giang, Long Hậu, Ngu Dung, Thượng Hộ, và sông Lan cũng là sông quan trọng của Thái Bình, thuyền bè lưu thông rất dễ dàng.
|
 |
Thái
Bình chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 - 24°
C. Mùa đông thường ấm hơn so vơi các tỉnh nằm sâu trong
đất liền. Mùa hè nóng nhưng có gió biển mát mẻ. Giao
thông thuận lợi đặc biệt là giao thông đường thủy.
|
|
 |
 |
 |
|
 |