 |
 |
 |
 |
Diện
tích: 2.985 km2.
Dân số (2004): 5.385.454 người.
Các quận: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9,10, 11, 12, Tân Bình,
Tân Phú, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Thủ
Đức, Gò Vấp, Bình Tân.
Các huyện: Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc
Môn, Củ Chi, Bình Chánh.
Lãnh thổ thành phố Sài Gòn có tọa
độ địa lý 10 độ 22'13" - 11 độ
22'17" vĩ độ bắc và 160 độ 01'25"
- 107 độ 01'10" kinh độ đông. Trung tâm
thành phố cách Hà Nội 1.730 km (1081 miles)
đường chim bay. Thành phố có 15 km (9
miles) bờ biển.
|
 |
Thành phố Sài Gòn được thành lập trên một vùng đất
có nhiều sông ngòi, kinh rạch và phát triển thành một đô thị
lớn nhưng vẫn còn dấu vết của sông ngòi cũ,
qua những địa danh đã trở thành quen thuộc.
Sông chính của thành phố là sông Sài Gòn, chảy qua tỉnh
Bình Dương xuống Gia Định, rồi chảy sát phía
Đông làm ranh giới với tỉnh. Những con sông và kinh rạch
đáng kể là sông Thị Nghè (phụ lưu của sông Sài Gòn),
kinh Đôi, kinh Hành Bàng, kinh Bến Nghé, rạch Cát, kinh
Ruột Ngựa, (Mã Trường Giang) rạch Cầu Ông Lãnh,
rạch Lò Gốm, rạch Cầu Kiệu, rạch Ông Buông, kinh Tàu
Hủ...
|
 |
Về nguồn gốc tên sông Thị Nghè, ta có hai tuyến
khác nhau: Thứ nhất Bà Nguyễn Thị Khánh, con
gái Khâm sai Nguyễn Cửu Vân (thời chúa Nguyễn Phúc
Chu, 1691-1725) và là vợ của ông Nghè làm thư ký trong dinh Phiên
Trấn, cho xây mộy cây cầu dài bắt qua sông để chồng
tiện đi làm việc và cũng để dân chúng sử
dụng. Cầu nầy được dân gọi Bà Nghè, sau đổi thành
Thị Nghè. Thứ hai bà Thị Nghè(vợ một ông Nghè) tổ
chức các toán dân Pháp đánh quân Pháp. Khi giặc chiếm
Sài Gòn, cho một tàu nhỏ đổ quân lên bờ liền bị
nghĩa quân của Thị Nghè đánh dữ dội.
Sau bà hy sinh trong một trận đánh. Dân chúng đặt
tên sông, cầu và vùng Thị Nghè từ đó.
|
 |
Kinh Tàu Hủ (còn gọi là kinh Chợ Lớn) và đường thủy vẫn
quan trọng về giao thông và kinh tế, vì nối
liền Sài Gòn với các sông ngòi chảy xuống miền Tây.
Xưa, vùng nầy còn có rạch Chợ Lớn nhưng quá nhỏ hẹp nên vua
Gia Long cho 11.460 dân công đ ào kinh Tàu Hủ trong ba tháng
và hoàn tất ngày 23 tháng Tư năm Kỷ Mảo (1819). Kinh dài
độ năm cây số rưởi, rộng gần 37 thước, sâu khoảng
17 thước. Gia Long đặt tên kinh là An Thông Hạ. Kinh Ruột
Ngựa do quan Nguyễn Hữu Đàm cho đ ào vào
mùa Thu năm Nhâm Thìn (1772), phá một đường sình
lầy để đ ào con kinh thẳng như ruột ngựa, nên gọi
là "Mã Trường Giang", giúp cho thuyền bè đi lại được
thuận lợi hơn.
|
 |
Lúc
đất Sài Gòn mới phát triển, có rất nhiều
kinh rạch đ ào ngang dọc thành phố nhưng đã
bị lấp từ lâu để làm đường xá như kinh
Sa Ngư (sau lấp lại thành đường Nguyễn Huệ,
kinh Cây Cầm, (chạy trên đường Lê Thánh Tông), kinh Chợ
Vải (chạy tới mặt tiền Toà Đô Chính). rạch Cầu Sấu
(xưa có hầm nuôi cá sấu để bán thịt, rạch
chạy đến hai đường Công Lý và Hàm Nghi), rạch
Bà Tịnh (chạy đến đường Võ Tánh)...
Vì thế, Sài Gòn có rất nhiều cầu xưa cũ
như cầu Cao Miên (cầu Bông), cầu Muối , cầu Ông Lãnh,
cầu Mống, cầu Quây, cầu Kho, cầu Quan, cầu Thị Nghè,
cầu Xóm Chỉ, cầu Chợ Lớn, cầu Chà Và, cầu Xóm Củi, cầu Ông
Lớn (xưa dân chúng không được gọi tên thật của Việt gian
Đỗ Hữu Phương), cầu Bót Bình Tây, cầu
Ba Cẳng...
|
 |
Khí
hậu của thành phố Sài Gòn có hai mùa rõ rệt. Mùa
mưa từ tháng Năm đến tháng Mười, mùa khô từ tháng Mười
Hai đến tháng Tư. Mưa nhiều vào tháng Sáu và tháng Chín,
có gió Tây Nam thổi, Hai tháng nóng nhất là tháng Tư và
tháng Tám, có gió Đông Bắc thổi. Tháng Mười Hai mát nhất,
nhiệt độ trung bình hàng năm là 26.9 bách phân.
Các quốc lộ 1, 4, 13 và liên tỉnh lộ 5, 52 là những
đường giao thông quan trọng nối Sài Gòn với các
tỉnh khác. Phi trường của Sài Gòn là phi trường Tân Sơn Nhất,
có những phi đạo lớn theo tiêu chuẩn quốc
tế.
|
|
 |
 |
 |
|
 |