 |
 |
 |
 |
Diện
t ích: 5.208,8 km2. Dân số (2004): 1.191.829
người. Tỉnh lỵ: Thành phố Cà Mau. Các huyện: Đầm
Dơi, Ngọc Hiển, Cái Nước, Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình.
Dân Tộc: Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Chăm.
|
 |
Cà
Mau là tỉnh cực nam của tổ quốc, có 3 mặt giáp biển với 307
km (192 miles) bờ biển. Phía bắc giáp Kiên Giang, phía đông
bắc giáp Bạc Liêu, phía đông và đông nam giáp biển
đông, phía tây và tây nam giáp Vịnh Thái Lan.
|
 |
Cà
Mau là vùng đất mới bao gồm: đất phèn, đất
mặn, đất than bùn và đất bãi bồi tạo nên
những cánh đồng màu mỡ. Cà Mau có mạng lưới
sông ngòi chằng chịt, 7 sông chính là sông Ông Đốc, Bảy
Háp, Cái Lớn, Gành Hào, Dầm Dơi, Trèm Trẹm, Bạch Ngưu tạo thành
các cửa sông lớn. Ngoài biển Cà Mau còn có đảo Hòn Khoai,
Hòn Chuối. Nhờ có bờ biển dài, khả năng đánh bắt cá
tôm của Cà Mau rất lớn. Nơi đây phát triển nhiều hồ nuôi
tôm.
|
 |
Cà
Mau nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm. Mùa
mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8, các tháng khác ít mưa. Lượng
mưa trung bình ở Cà Màu 2.500 mm/năm (99 in/năm). Nhiệt
độ trung bình năm khoảng 26 -27 °
C.
|
 |
Giao
thông: đường bộ số 4 từ Cần Thơ, Sóc Trăng xuống,
qua Bạc Liêu (114 km (71 miles)), Cà Mau (180 km (112 miles)), từ
Cà Mau đến Năm Căn (qua Cái Nước) 55 km (34 miles). Đường
thứ 2 từ Cà Mau lên Rạch Giá 130 km (80 miles). Cà Mau có nhiều
sông và mạng lưới kênh rạch chằng chịt nên đi lại
và vận chuyển bằng ghe thuyền rất thuận tiện. Ngay trong rừng
đước, rừng tràm, thuyền đi chỗ nào cũng
được.
|
 |
Vùng đất tận cùng của tổ quốc là một bức tranh hài hòa giữa
rừng và biển, với một quần thể động thực vật phong phú, nhiều
phong cảnh đẹp như cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc, những
sân chim tự nhiên như sân chim Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước,
rừng tràm U Minh, rừng đước với nhiều loại động vật quí hiếm
của khu sinh thái rừng ngập mặn như heo rừng, trăn, kỳ đ à, khỉ.
Ngoài ra Cà Mau còn có một số di tích lịch sử, văn
hóa: động Nọc Nang, đình Tân Hưng.
|
|
 |
 |
 |
|
 |